Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

Những điểm mới của Luật Công chứng sửa đổi

Luật Công chứng sửa đổi bên cạnh các nội dung kế thừa từ Luật Công chứng năm 2006, đã sửa đổi quy định về phạm vi công chứng, theo đó giao lại cho công chứng viên quyền công chứng bản dịch giấy tờ khi được cá nhân, tổ chức yêu cầu.


Công chứng viên cũng được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản… Đặc biệt, việc chuyển nhượng văn phòng công chứng và chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng là những quy định hoàn toàn mới tại Luật Công chứng sửa đổi lần này.
Thêm việc cho công chứng, thêm lựa chọn cho người dân
Cùng với việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng sửa đổi quy định: “Công chứng viên có quyền chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Đi kèm với quy định này, Khoản 1 Điều 61 Luật Công chứng sửa đổi quy định rõ: “Việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó. Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện”.
Quy định này nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân khi có nhu cầu sử dụng bản dịch có công chứng, tránh việc khi phát hiện sai sót trong bản dịch thì người dân không biết phải tìm ai để yêu cầu bồi thường. Việc quy định rõ cộng tác viên dịch thuật phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện cũng là cơ sở để bảo đảm nâng cao trách nhiệm của người phiên dịch trong quá trình này.
Bên cạnh đó, Luật Công chứng sửa đổi đã mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên khi Điều 73 của Luật quy định: “Công chứng viên được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản. Việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực”.
Quy định này nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân trong việc lựa chọn và tiếp cận loại hình dịch vụ công này, trong khi Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn thực hiện các công việc chứng thực theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP như hiện nay.
Siết chặt hơn điều kiện được miễn đào tạo nghề công chứng
Luật Công chứng sửa đổi xác định rõ hơn tư cách pháp lý của công chứng viên như “công lại” của Nhà nước, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng, chịu sự quản lý đồng thời của Nhà nước và của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên.
Điều 3 Luật Công chứng sửa đổi quy định rõ: “Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội”.
Nếu như theo Luật Công chứng năm 2006, người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên có thể được miễn đào tạo nghề công chứng thì nay thời hạn này là 5 năm. Khoản 1 Điều 10 Luật Công chứng sửa đổi quy định những người được miễn đào tạo nghề công chứng bao gồm: Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật;  người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
Bên cạnh việc kéo dài thời gian công tác thực tế của các nhóm đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng (từ 3 năm lên 5 năm), Luật Công chứng sửa đổi cũng bổ sung quy định người được miễn đào tạo phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công chứng là 3 tháng.
Được phép chuyển nhượng văn phòng công chứng
Đặc biệt, trong lần sửa đổi này, Luật Công chứng đã quy định:  “Trong trường hợp không cần thiết duy trì phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Chính phủ quy định cụ thể việc chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng” (Khoản 1 Điều 21).
Còn đối với văn phòng công chứng thì Luật Công chứng sửa đổi quy định “phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên”. Quy định này nhằm duy trì hoạt động của văn phòng trong trường hợp công chứng viên trưởng văn phòng ốm đau, bị tai nạn hoặc vì các lý do cá nhân khác mà không thể hành nghề công chứng trong một thời gian nhất định như thực tế đã từng xảy ra.
Đáng chú ý, Điều 29 Luật Công chứng sửa đổi quy định văn phòng công chứng được chuyển nhượng cho các công chứng viên khác khi: Công chứng viên nhận chuyển nhượng văn phòng công chứng đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với người dự kiến sẽ tiếp quản vị trí trưởng văn phòng công chứng; cam kết hành nghề tại văn phòng công chứng mà mình nhận chuyển nhượng; cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của văn phòng công chứng được chuyển nhượng.
Tuy nhiên, điều luật cũng quy định công chứng viên đã chuyển nhượng văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng văn phòng công chứng.  Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục chuyển nhượng văn phòng công chứng.
Ngoài những quy định trên, Luật Công chứng sửa đổi cũng bổ sung nhiều quy định về nguyên tắc hành nghề công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, các hành vi bị nghiêm cấm, tiêu chuẩn công chứng viên, tập sự hành nghề công chứng, bổ nhiệm lại công chứng viên, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên…
Luật Công chứng sửa đổi (sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015), được tin tưởng là sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế. l.p
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. (Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng sửa đổi)
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn

Nhiều qui định đem đến thuận lợi cho người dân

Các đạo luật vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 có nhiều qui định đem đến thuận lợi, bảo đảm quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Luật Công chứng mới có nhiều thuận lợi cho người dân
Trong đó có 3 đạo luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo là Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ), Luật Công chứng (CC) và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam. Lệnh của Chủ tịch nước công bố các Luật này đã được Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố hôm qua (10/7). Trừ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam có hiệu  lực từ ngày 26/6/2014, Luật HN&GĐ và Luật CC cùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2015.
Không thừa nhận hôn nhân đồng tính
Luật HN&GĐ sửa đổi qui định “nam phải đủ từ 20 tuổi, nữ phải đủ từ 18 tuổi mới có quyền kết hôn” để có sự thống nhất trong cách tính tuổi của người kết hôn, bỏ qui định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính nhằm tránh sự phân biệt, kỳ thị đối với người đồng tính và can thiệp vào quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên, thể hiện quan điểm hôn nhân phải là sự liên kết giữa hai người khác giới tính, Khoản 2 Điều 8 qui định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
Thứ trưởng Đinh Trung Tụng cho biết, trong quá trình chung sống, nếu phát sinh tranh chấp thì được giải quyết theo các qui định hiện hành, trong đó có Bộ luật Dân sự theo nguyên tắc “chia đôi đối với những tài sản cùng tạo lập, hoặc căn cứ vào khả năng đóng góp của mỗi người, Tòa án sẽ xem xét giải quyết, tài sản của ai là của người ấy”.
Để giải quyết đầy đủ và hợp lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn từ việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, Luật mới đưa ra nguyên tắc việc chung sống như vợ chồng của nam, nữ mà không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng, đồng thời qui định việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Một trong những điểm mới rất quan trọng của Luật HN&GĐ là bổ sung chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nhằm đáp ứng nhu cầu của các cặp vợ chồng muốn có con nhưng người vợ không thể mang thai và sinh con. Cùng với đó, Luật cũng qui định nhiều điều kiện chặt chẽ cho việc mang thai hộ, quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ và những vấn đề khác có liên quan.
Ngoài ra, Luật đã bổ sung qui định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; sửa đổi, bổ sung các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình.
Bắt buộc bảo hiểm nghề nghiệp của công chứng viên
Luật Công chứng năm 2014 tập trung qui định về công chứng viên (CCV), tổ chức hành nghề CC nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, phát triển các tổ chức hành nghề CC qui mô lớn, hoạt động ổn định, bền vững, nâng cao chất lượng hoạt động CC, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động CC, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.
Với ý nghĩa đó, phạm vi CC theo Luật CC năm 2014 được mở rộng hơn Luật CC 2006, giao cho CCV thực hiện CC bản dịch, chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch mà mình CC nhằm nâng cao chất lượng bản dịch, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền lợi của cá nhân, tổ chức có yêu cầu chứng nhận bản dịch.
Nhằm nâng cao chất lượng và sự phát triển bền vững của đội ngũ CCV, Luật CC năm 2014 qui định chặt hơn về tiêu chuẩn CCV, tăng thời hạn đào tạo CCV lên thành 12 tháng, qui định người được miễn đào tạo nghề CC phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ trước khi được bổ nhiệm và chỉ được giảm 1/2 thời gian tập sự, tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề CC.
Luật CC năm 2014 tiếp tục ghi nhận 2 loại hình tổ chức hành nghề CC (Phòng CC và văn phòng công chứng – VPCC) song xác định rõ định hướng đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động CC, ưu tiên phát triển các VPCC theo qui hoạch tổng thể về tổ chức hành nghề CC, qui định về việc chuyển nhượng VPCC với những điều  kiện, thủ tục chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, ổn định của hoạt động CC.
Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người yêu cầu CC, giảm bớt áp lực cho tổ chức hành nghề CC và CCV trong quá trình hành nghề, tránh tình trạng đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm bồi thường, Luật qui định rõ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của CCV là bắt buộc.
Các qui định về thủ tục CC hợp đồng, giao dịch, bản dịch, phí CC, thù lao CC và chi phí khác được qui định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ hơn, khắc phục tình trạng một số tổ chức hành nghề CC trong thời gian qua đã thu thù lao, chi phí CC không  phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của người yêu cầu CC
Bảo đảm lợi ích thiết thực của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Đó là một trong những mục tiêu mà Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam hướng tới. So với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam không qui định về thời hạn đăng ký giữ Quốc tịch VIệt Nam và bổ sung qui định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo qui định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam”.
Qui định như vậy nhằm khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Việc sửa đổi sẽ không tạo áp lực về thời gian đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, đồng thời gắn kết với việc cấp hộ chiếu Việt Nam cho người đăng ký sẽ bảo đảm tốt hơn lợi ích thiết thực của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn

Công chứng viên chính thức được mở rộng thẩm quyền

Với trên 90% Đại biểu tán thành, Quốc hội đã thông qua Dự thảo Luật Công chứng (sửa đổi). Có hiệu lực từ ngày 1/1/2015 với 10 chương, 81 điều, Luật Công chứng mới kỳ vọng sẽ đưa hoạt động công chứng ngày càng phát triển, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người dân.
Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch
Theo Dự thảo Luật mới được thông qua, công chứng ngoài việc chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản còn chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt…
Cong-chung-vien-chinh-thuc-duoc-mo-rong
Cong-chung-vien-chinh-thuc-duoc-mo-rong
Trình bày Báo cáo giải trình, tiếp thu, chỉnh lý Dự án Luật trước đó, Chủ nhiệm Ủy ban Pháp luật Phan Trung Lý cho biết: Các ý kiến phát biểu đều tán thành quy định về phạm vi chịu trách nhiệm của công chứng viên đối với công chứng bản dịch giấy tờ, văn bản. Có ý kiến băn khoăn về tính khả thi của quy định về nội dung này.
Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định tại Khoản 1 Điều 2 và Điều 61 của Dự thảo Luật sẽ tạo thuận lợi hơn cho người dân khi có nhu cầu sử dụng bản dịch có công chứng, tránh việc khi phát hiện sai sót trong bản dịch,  người dân không biết phải tìm ai để yêu cầu bồi thường. Mặt khác, do phải chịu trách nhiệm toàn bộ trước người yêu cầu công chứng về bản dịch được công chứng nên công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng phải hết sức cân nhắc khi lựa chọn cộng tác viên dịch thuật bảo đảm về uy tín, trình độ để có thể kiểm soát được chất lượng bản dịch.
Khoản 1 Điều 61 của Dự thảo Luật cũng đã quy định rõ cộng tác viên dịch thuật phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện. Đây cũng là cơ sở để bảo đảm nâng cao trách nhiệm của người phiên dịch trong quá trình này.
Do ý kiến về vấn đề này còn khác nhau nên Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã chỉ đạo Đoàn Thư ký kỳ họp gửi phiếu xin ý kiến các vị Đại biểu Quốc hội về phạm vi chịu trách nhiệm của công chứng viên và tổ chức hành nghề công chứng trong công chứng bản dịch. Kết quả là có 327/393 ý kiến (chiếm 83,2% số phiếu thu về và 65,7% tổng số Đại biểu Quốc hội) tán thành với phương án quy định trong Dự thảo Luật.
Giới hạn số lượng người được miễn đào tạo
Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, phạm vi đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng hiện nay tương đối rộng và quy định này là phù hợp với giai đoạn ban đầu của xã hội hóa nghề công chứng, khi số lượng công chứng viên còn ít và công tác đào tạo nghề cũng còn nhiều hạn chế.
Tuy nhiên, thực tế vừa qua cho thấy còn nhiều sai phạm trong hoạt động công chứng do những công chứng viên thuộc nhóm được miễn đào tạo nghề công chứng thực hiện. Hiện tại, số lượng công chứng viên trên toàn quốc đã tăng lên rất nhiều, cùng với công tác đào tạo nghề công chứng ngày càng được chú trọng, chuyên sâu và bài bản hơn thì việc giới hạn lại phạm vi những người được miễn đào tạo nghề công chứng là cần thiết để bảo đảm nâng cao hơn nữa chất lượng của công chứng viên được bổ nhiệm.
Do vậy, để bảo đảm tương đương về trình độ cũng như thời gian công tác thực tế giữa các nhóm đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng, giới hạn số lượng người được miễn đào tạo, Ủy ban Thường vụ Quốc hội đề nghị chỉnh lý theo hướng chỉ miễn đào tạo nghề công chứng cho người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên (tương đương với thời gian tối thiểu là 10 năm công tác tại các cơ quan tư pháp).
Ngoài ra, Dự thảo Luật mới được thông qua cũng quy định theo hướng những người được miễn đào tạo nghề công chứng chỉ được giảm một phần hai thời gian tập sự hành nghề công chứng so với các trường hợp bình thường khác, nghĩa là vẫn cần tập sự 6 tháng trước khi được bổ nhiệm làm công chứng viên.
Thêm cơ hội lựa chọn cho dân
Theo Luật Công chứng sửa đổi mới,  công chứng viên được thực hiện chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản; việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực. Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định này “bảo đảm thuận lợi hơn cho người dân trong việc lựa chọn và tiếp cận loại hình dịch vụ công”. Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn thực hiện các công việc chứng thực theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP như hiện nay.
Bỏ quy định về tuổi hành nghề công chứng
Tiếp thu ý kiến của đa số Đại biểu Quốc hội, Luật Công chứng sửa đổi vừa được thông qua đã bỏ quy định về tuổi hành nghề công chứng. Theo Ủy ban Thường vụ Quốc hội, nội dung này sẽ thực hiện theo quy định của Bộ luật Lao động, Luật Viên chức và các văn bản pháp luật khác có liên quan tương tự như đối với các nghề nghiệp, chức danh tư pháp.
có thể bạn quan tâm:
Theo baophapluat.vn

Phí công chứng

Quy định về mức phí công chứng tại văn phòng công chứng tư nhân được niêm yết công khai tại văn phòng. Điều chỉnh hợp lý căn cứ theo luật công chứng và thông tư liên tịch của Bộ Tài Chính – Bộ Tư Pháp.

QUY ĐỊNH
VỀ MỨC THU PHÍ CÔNG CHỨNG
Căn cứ Luật Công chứng số 82/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006;
Căn cứ thông tư liên tịch số: 08/2012/TTLT-BTC-BTP của Bộ tư Pháp – Bộ tài chính
 Văn phòng công chứng tư nhân áp dụng mức thu phí công chứng như sau:
 1. Mức thu phí công chứng hợp đồng, giao dịch được xác định theo giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch:
a) Mức thu phí đối với các việc công chứng các hợp đồng, giao dịch sau đây được tính như sau:
– Công chứng hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất (tính trên giá trị quyền sử dụng đất);
– Công chứng hợp đồng chuyển nhượng, tặng cho quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất, góp vốn bằng quyền sử dụng đất có tài sản gắn liền với đất (tính trên tổng giá trị quyền sử dụng đất và giá trị tài sản gắn liền với đất);
– Công chứng hợp đồng mua bán, tặng cho tài sản khác, góp vốn bằng tài sản khác (tính trên giá trị tài sản);
– Công chứng văn bản thoả thuận phân chia di sản, văn bản khai nhận di sản (tính trên giá trị di sản);
– Công chứng hợp đồng vay tiền (tính trên giá trị khoản vay);
– Công chứng hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản (tính trên giá trị tài sản; trường hợp trong hợp đồng thế chấp tài sản, cầm cố tài sản có ghi giá trị khoản vay thì tính trên giá trị khoản vay);
– Công chứng hợp đồng kinh tế, thương mại, đầu tư, kinh doanh (tính trên giá trị hợp đồng).

  STT Giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch Mức thu(đồng/trường hợp)
1Dưới 50 triệu đồng50 nghìn
2 Từ 50 triệu  đồng đến 100 triệu đồng100 nghìn
3Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng0,1% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch
4Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng01 triệu đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng
5Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng2,2 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng
6Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng3,2 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng
7Trên 10 tỷ đồng5,2 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng (mức thu tối đa không quá 10 triệu đồng/trường hợp)
b) Mức thu phí đối với các việc công chứng hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; thuê nhà ở; thuê, thuê lại tài sản (tính trên tổng số tiền thuê) được tính như sau:
STTGiá trị hợp đồng, giao dịch (tổng số tiền thuê)Mức thu(đồng/trường hợp)
1Dưới 50 triệu đồng40 nghìn
2Từ 50 triệu đồng đến 100 triệu đồng80 nghìn
3Từ trên 100 triệu đồng đến 01 tỷ đồng0,08% giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch
4Từ trên 01 tỷ đồng đến 03 tỷ đồng800 nghìn đồng + 0,06% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 01 tỷ đồng
5Từ trên 03 tỷ đồng đến 05 tỷ đồng02 triệu đồng + 0,05% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 03 tỷ đồng
6Từ trên 05 tỷ đồng đến 10 tỷ đồng03 triệu đồng + 0,04% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 05 tỷ đồng
7Từ trên 10 tỷ đồng05 triệu đồng + 0,03% của phần giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch vượt quá 10 tỷ đồng (mức thu tối đa không quá 8 triệu đồng/trường hợp)
2. Mức thu phí công chứng hợp đồng, giao dịch không theo giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch được quy định như sau:
 SốTT Loại việcMức thu(đồng/trường hợp)
1Công chứng hợp đồng chuyển đổi quyền sử dụng đất nông nghiệp40 nghìn
2Công chứng hợp đồng bán đấu giá bất động sản100 nghìn
3Công chứng hợp đồng bảo lãnh100 nghìn
4Công chứng hợp đồng uỷ quyền40 nghìn
5Công chứng giấy uỷ quyền20 nghìn
6Công chứng việc sửa đổi, bổ sung hợp đồng, giao dịch (trừ việc sửa đổi, bổ sung tăng giá trị tài sản hoặc giá trị hợp đồng, giao dịch thì áp dụng mức thu theo quy định tại khoản 2)40 nghìn
7Công chứng việc huỷ bỏ hợp đồng, giao dịch20 nghìn
8Công chứng di chúc40 nghìn
9Công chứng văn bản từ chối nhận di sản20 nghìn
10Các công việc công chứng hợp đồng, giao dịch khác40 nghìn
3. Mức thu phí nhận lưu giữ di chúc: 100 nghìn đồng/trường hợp.
4. Mức thu phí cấp bản sao văn bản công chứng: 5 nghìn đồng/trang, từ trang thứ ba (3) trở lên thì mỗi trang thu 3 nghìn đồng nhưng tối đa không quá 100 nghìn đồng/bản.
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản