tháng 5 2016 - Archieve

Under the hood articles from the past.

Thứ Ba, 31 tháng 5, 2016

34% người dân Hà Nội chưa biết gì về Thừa phát lại

Con số trên là tín hiệu đáng mừng vì có đến 70-90% người dân ở nhiều địa phương khác không biết, không nghe nói gì về Thừa phát lại.
Sau những thành công của chế định Thừa phát lại tại TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội là một trong 13 địa phương tiếp theo triển khai thí điểm chế định thừa phát lại theo Nghị quyết của Quốc hội. Đến nay, Hà Nội đã có 5 Văn phòng Thừa phát lại (TPL) đi vào hoạt động chính thức. Tuy nhiên, qua một thời gian hoạt động, những bất cập, khó khăn khi triển khai trong thực tiễn dần dần bộc lộ.

Người dân Thủ đô làm quen với Thừa phát lạiTheo báo cáo khảo sát đánh giá tác động kinh tế – xã hội của việc thí điểm TPL tại thành phố Hà Nội của Viện Khoa học pháp lý, Bộ Tư pháp, Hà Nội là tỉnh đi đầu trong việc đăng ký thí điểm chế định thừa phát lại và số lượng người tham gia đăng ký các lớp tập huấn hành nghề thừa phát lại đông nhất, số lượng văn phòng thành lập đông nhất.Khảo sát những người dân đang sống tại Hà Nội và các tỉnh lân cận cho thấy, nếu như 70-90% người dân ở địa phương khác không biết, không nghe nói gì về TPL thì tại Hà Nội chỉ có 34% người dân khi được hỏi cho biết không quan tâm và không biết gì về TPL. Đối với hoạt động lập vi bằng, có tới 89% người dân cho biết, họ sẵn sàng sử dụng dịch vụ lập vi bằng khi có nhu cầu, còn các hoạt động khác thì khoảng 30% sẵn sàng.
Khảo sát tại chính quyền cơ sở nơi đặt các văn phòng thừa phát lại có 20% cán bộ cơ sở cho biết họ có hợp tác trong hoạt động tống đạt, thi hành án và khoảng 80% những người đã từng hợp tác đánh giá thái độ của thừa phát lại trong thực hiện nhiệm vụ của mình là tốt.
Nhiều khó khăn khi triển khai
Theo ông Tạ Quốc Hùng, Phó Chánh án tòa án nhân dân thành phố Hà Nội, việc thực hiện triển khai thí điểm các Văn phòng TPL trên địa bàn thành phố là rất cần thiết cho người dân. Nếu thực hiện được đại trà toàn quốc thì người dân sẽ hưởng lợi rất nhiều từ dịch vụ TPL. Tuy vậy, trong quá trình triển khai, ông Hùng vẫn còn băn khoan khi Thừa phát lại hoặc Thư ký Thừa phát lại không trực tiếp xây dựng hồ sơ vụ án, cũng không được đọc hồ sơ vụ án nên việc tống đạt các văn bản tố tụng có thể gặp nhiều trở ngại trong việc tống đạt văn bản hoặc việc tống đạt gặp nhiều khó khăn hơn, có thể dẫn đến việc giải quyết vụ án bị kéo dài.
Ông Hùng cho biết: “Đây chính là sự băn khoăn của Thẩm phán và Thư ký Tòa án trong quá trình thực hiện xây dựng hồ sơ vụ án và cũng là một trong những nguyên nhân làm cho việc triển khai thực hiện thí điểm chế định thừa phát lại chậm trễ, kém hiệu quả. Một vấn đề nữa được đặt ra, trong trường hợp Thừa phát lại không thực hiện việc tống đạt, tống đạt các văn bản tố tụng không đúng quy định của pháp luật tố tụng hoặc chậm trễ trong việc tống đạt gây ảnh hưởng đến tiến độ giải quyết vụ án của Tòa án thì giải quyết thế nào”.
Thực tế hiện nay, nhiều bản án, quyết định của Tòa án bị hủy theo trình tự phúc thẩm, giám độc thẩm hoặc tái thẩm do vi phạm trong thủ tục tố tụng. Trong đó, có các vi phạm liên quan đến tính hợp lệ của việc tống đạt các văn bản tố tụng. Vì vậy, trong trường hợp bản án bị hủy do Thừa phát lại tống đạt không hợp lệ thì ai sẽ là người chịu trách nhiệm đối với bản án bị hủy: Thẩm phán xét xử hay thừa phát lại? Hiện nay, pháp luật về thừa phát lại vẫn chưa có quy định về các trường hợp này.
Vấn đề mà Trưởng Văn phòng TPL Ba Đình, Nguyễn Văn Lạng đang băn khoăn, dè dặt là về thời gian còn rất ít để khẳng định vị thế của TPL trong dân. Theo ông Lạng, theo Nghị quyết 36/2012/QH13 của Quốc hội thời gian thí điểm chỉ còn hơn 1 năm nữa (đến hết ngày 31 tháng 12 năm 2015). Trong khi muốn thi hành một vụ thường phải kéo dài, ít nhất cũng 1 năm. Chỉ tính riêng chuyện bán đấu giá tài sản nếu thuận lợi thì ít nhất cũng phải 3 tháng từ khi kê biên, định giá…và nếu bán không được, phải tổ chức lại thì ít nhất cũng phải mất 9 tháng – 1 năm nữa. Điều này khiến người dân đắn đo khi ký hợp đồng với Văn phòng TPL.
“Văn phòng TPL Ba Đình sẵn sàng nhận những việc còn tồn chục năm. Trên cơ sở đó Văn Phòng sẽ khẳng định mình, để chứng minh cho dân hiểu chúng tôi làm được đến đâu”, ông trưởng Văn phòng TPL Ba Đình cho hay. Mà muốn làm được điều này, các Văn phòng TPL rất cần sự chung tay, hỗ trợ hơn nữa của các cơ quan chức năng.
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn

Gỡ rối quy định chứng thực “giấy tờ, văn bản song ngữ”

Trước đây theo Nghị định 79/2007/NĐ-CP ngày 18/5/2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc; chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký không quy định cụ thể thẩm quyền chứng thực các giấy tờ, văn bản song ngữ. Vấn đề chứng thực các văn bản, giấy tờ mang tính chất song ngữ Nghị định 79 còn bỏ ngỏ, chưa đề cập thẩm quyền cụ thể của cơ quan nào thực hiện.

Tuy nhiên, để hướng dẫn cụ thể, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư 03/2008/TT-BTP ngày 25/8/2008 Hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký phân định cụ thể thẩm quyền chứng thực.
Cụ thể đối với các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ (ví dụ: Hộ chiếu của công dân Việt Nam, chứng chỉ tốt nghiệp của các trường đại học Việt Nam liên kết với trường đại học của nước ngoài… trong đó có ghi đầy đủ bằng cả tiếng Việt và tiếng nước ngoài) thì người yêu cầu chứng thực được lựa chọn chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc Uỷ ban nhân dân cấp xã. Như vậy đối với các giấy tờ, văn bản có tính chất song ngữ thì người dân có quyền lựa chọn chứng thực tại Phòng Tư pháp cấp huyện hoặc UBND cấp xã.
Đến khi Nghị định 04/2012/NĐ-CP ngày 20/01/2012 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 5 của Nghị định số 79/2007/NĐ-CP ngày 18 tháng 5 năm 2007 của Chính phủ về cấp bản sao từ sổ gốc, chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký quy định cụ thể thẩm quyền của Phòng Tư pháp cấp huyện chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ. Tuy nhiên, định nghĩa như thế nào là giấy tờ, văn bản song ngữ, hình thức của các loại giấy tờ, văn bản song ngữ như thế nào thì chưa được quy định, giải thích rõ dẫn đến có nhiều ý kiến trái chiều nhau về cách hiểu giấy tờ, văn bản song ngữ để xác định thẩm quyền chứng thực các giấy tờ trên.
Có địa phương giấy tờ, văn bản song ngữ là có hai loại ngôn ngữ song song và có một ngôn ngữ là tiếng Việt ở tất cả các nội dung, có nơi hiểu chỉ cần một vài nội dung tiếng nước ngoài còn lại là tiếng Việt thì gọi là song ngữ. Từ đó dẫn đến việc xác định thẩm quyền chứng thực khác nhau gây khó khăn cho công dân khi có yêu cầu chứng thực các loại giấy tờ, văn bản nêu trên.
Trước thực trạng đó, Bộ Tư pháp đã ban hành Công văn số 9277/BTP-HCTP ngày 19/11/2012 hướng dẫn cụ thể hai vấn đề cơ bản đó là thẩm quyền chứng thực giấy tờ, văn bản song ngữ thuộc thẩm quyền của Phòng Tư pháp cấp huyện theo Nghị định 04 và định nghĩa “Giấy tờ, văn bản song ngữ” là giấy tờ, văn bản được thể hiện đầy đủ bằng hai ngôn ngữ, trong đó có một ngôn ngữ là tiếng việt.
Tuy nhiên Bộ Tư pháp cho biết qua kiểm tra công tác chứng thực ở một số địa phương cho thấy, hầy hết các văn bằng, chứng chỉ chỉ do cơ quan, tổ chức có thẩm quyền của Việt Nam cấp có xen thêm tiếng nước ngoài cũng được địa phương cho là giấy tờ, văn bản song ngữ. Vì vậy, khi người dân đến Ủy ban nhân dân cấp xã yêu cầu chứng thực bản sao từ bản chính các giấy tờ, văn bản này đều bị từ chối, nên phải tập trung đến Phòng Tư pháp, gây ra tình trạng quá tải cho các Phòng Tư pháp.
Nhằm giảm áp lực công việc cho các Phòng Tư pháp và tạo điều kiện thuận lợi cho người dân trong việc lựa chọn cơ quan thực hiện chứng thực, vừa qua Cục Hộ tịch, quốc tịch, chứng thực Bộ Tư pháp đã tiếp tục có Công văn số 3086/HTQT-CT ngày 13/6/2014 gửi Sở Tư pháp các tỉnh, thành phố trong cả nước đề nghị có văn bản hướng dẫn Phòng Tư pháp, UBND cấp xã trên địa bàn để thống nhất cách hiểu về “giấy tờ, văn bản song ngữ”.
Do vậy Công văn số 3086/HTQT-CT ngày 13/6/2014 của Bộ Tư pháp đã hướng dẫn cụ thể “giấy tờ, văn bản song ngữ” và chỉ rõ các loại giấy tờ, văn bản nào là song ngữ nhằm giúp địa phương xác định cụ thể thẩm quyền chứng thực các loại giấy tờ, văn bản này tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho hoạt động chứng thực và sẽ không còn những cách hiểu khác nhau về “giấy tờ, văn bản song ngữ”
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn

Những điểm mới của Luật Công chứng sửa đổi

Luật Công chứng sửa đổi bên cạnh các nội dung kế thừa từ Luật Công chứng năm 2006, đã sửa đổi quy định về phạm vi công chứng, theo đó giao lại cho công chứng viên quyền công chứng bản dịch giấy tờ khi được cá nhân, tổ chức yêu cầu.


Công chứng viên cũng được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản… Đặc biệt, việc chuyển nhượng văn phòng công chứng và chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng là những quy định hoàn toàn mới tại Luật Công chứng sửa đổi lần này.
Thêm việc cho công chứng, thêm lựa chọn cho người dân
Cùng với việc chứng nhận tính xác thực, tính hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng sửa đổi quy định: “Công chứng viên có quyền chứng nhận tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng”.
Đi kèm với quy định này, Khoản 1 Điều 61 Luật Công chứng sửa đổi quy định rõ: “Việc dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt để công chứng phải do người phiên dịch là cộng tác viên của tổ chức hành nghề công chứng thực hiện. Cộng tác viên phải là người tốt nghiệp đại học ngoại ngữ hoặc đại học khác mà thông thạo thứ tiếng nước ngoài đó. Cộng tác viên phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện”.
Quy định này nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân khi có nhu cầu sử dụng bản dịch có công chứng, tránh việc khi phát hiện sai sót trong bản dịch thì người dân không biết phải tìm ai để yêu cầu bồi thường. Việc quy định rõ cộng tác viên dịch thuật phải chịu trách nhiệm đối với tổ chức hành nghề công chứng về tính chính xác, phù hợp của nội dung bản dịch do mình thực hiện cũng là cơ sở để bảo đảm nâng cao trách nhiệm của người phiên dịch trong quá trình này.
Bên cạnh đó, Luật Công chứng sửa đổi đã mở rộng phạm vi hoạt động của các tổ chức hành nghề công chứng, của công chứng viên khi Điều 73 của Luật quy định: “Công chứng viên được chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản. Việc chứng thực bản sao từ bản chính, chứng thực chữ ký trong giấy tờ, văn bản được thực hiện theo quy định của pháp luật về chứng thực”.
Quy định này nhằm tạo thuận lợi hơn cho người dân trong việc lựa chọn và tiếp cận loại hình dịch vụ công này, trong khi Phòng Tư pháp cấp huyện và Ủy ban nhân dân cấp xã vẫn thực hiện các công việc chứng thực theo quy định tại Nghị định số 79/2007/NĐ-CP như hiện nay.
Siết chặt hơn điều kiện được miễn đào tạo nghề công chứng
Luật Công chứng sửa đổi xác định rõ hơn tư cách pháp lý của công chứng viên như “công lại” của Nhà nước, được Bộ trưởng Bộ Tư pháp bổ nhiệm để hành nghề công chứng, chịu sự quản lý đồng thời của Nhà nước và của tổ chức xã hội – nghề nghiệp của công chứng viên.
Điều 3 Luật Công chứng sửa đổi quy định rõ: “Công chứng viên cung cấp dịch vụ công do Nhà nước ủy nhiệm thực hiện nhằm bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch; phòng ngừa tranh chấp; góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội”.
Nếu như theo Luật Công chứng năm 2006, người đã là thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên, luật sư đã hành nghề từ ba năm trở lên có thể được miễn đào tạo nghề công chứng thì nay thời hạn này là 5 năm. Khoản 1 Điều 10 Luật Công chứng sửa đổi quy định những người được miễn đào tạo nghề công chứng bao gồm: Người đã có thời gian làm thẩm phán, kiểm sát viên, điều tra viên từ 05 năm trở lên; luật sư đã hành nghề từ 05 năm trở lên; giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật, tiến sĩ luật;  người đã là thẩm tra viên cao cấp ngành tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.
Bên cạnh việc kéo dài thời gian công tác thực tế của các nhóm đối tượng được miễn đào tạo nghề công chứng (từ 3 năm lên 5 năm), Luật Công chứng sửa đổi cũng bổ sung quy định người được miễn đào tạo phải tham gia khóa bồi dưỡng kỹ năng hành nghề công chứng và Quy tắc đạo đức hành nghề công chứng tại cơ sở đào tạo nghề công chứng trước khi đề nghị bổ nhiệm công chứng viên. Thời gian bồi dưỡng nghề công chứng là 3 tháng.
Được phép chuyển nhượng văn phòng công chứng
Đặc biệt, trong lần sửa đổi này, Luật Công chứng đã quy định:  “Trong trường hợp không cần thiết duy trì phòng công chứng thì Sở Tư pháp lập đề án chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng trình Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định. Chính phủ quy định cụ thể việc chuyển đổi phòng công chứng thành văn phòng công chứng” (Khoản 1 Điều 21).
Còn đối với văn phòng công chứng thì Luật Công chứng sửa đổi quy định “phải có từ hai công chứng viên hợp danh trở lên”. Quy định này nhằm duy trì hoạt động của văn phòng trong trường hợp công chứng viên trưởng văn phòng ốm đau, bị tai nạn hoặc vì các lý do cá nhân khác mà không thể hành nghề công chứng trong một thời gian nhất định như thực tế đã từng xảy ra.
Đáng chú ý, Điều 29 Luật Công chứng sửa đổi quy định văn phòng công chứng được chuyển nhượng cho các công chứng viên khác khi: Công chứng viên nhận chuyển nhượng văn phòng công chứng đã hành nghề công chứng từ 02 năm trở lên đối với người dự kiến sẽ tiếp quản vị trí trưởng văn phòng công chứng; cam kết hành nghề tại văn phòng công chứng mà mình nhận chuyển nhượng; cam kết kế thừa quyền và nghĩa vụ của văn phòng công chứng được chuyển nhượng.
Tuy nhiên, điều luật cũng quy định công chứng viên đã chuyển nhượng văn phòng công chứng không được phép tham gia thành lập văn phòng công chứng mới trong thời hạn 05 năm kể từ ngày chuyển nhượng. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh xem xét, quyết định cho phép chuyển nhượng văn phòng công chứng.  Chính phủ quy định cụ thể trình tự, thủ tục chuyển nhượng văn phòng công chứng.
Ngoài những quy định trên, Luật Công chứng sửa đổi cũng bổ sung nhiều quy định về nguyên tắc hành nghề công chứng, giá trị pháp lý của văn bản công chứng, các hành vi bị nghiêm cấm, tiêu chuẩn công chứng viên, tập sự hành nghề công chứng, bổ nhiệm lại công chứng viên, quyền và nghĩa vụ của công chứng viên…
Luật Công chứng sửa đổi (sẽ có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2015), được tin tưởng là sẽ khắc phục những hạn chế, bất cập về thể chế, tạo cơ sở pháp lý cho bước phát triển mới của hoạt động công chứng theo chủ trương xã hội hóa, nâng cao chất lượng và tính bền vững của hoạt động công chứng, từng bước phát triển nghề công chứng Việt Nam phù hợp với thông lệ quốc tế. l.p
Công chứng là việc công chứng viên của một tổ chức hành nghề công chứng chứng nhận tính xác thực, hợp pháp của hợp đồng, giao dịch dân sự khác bằng văn bản, tính chính xác, hợp pháp, không trái đạo đức xã hội của bản dịch giấy tờ, văn bản từ tiếng Việt sang tiếng nước ngoài hoặc từ tiếng nước ngoài sang tiếng Việt mà theo quy định của pháp luật phải công chứng hoặc cá nhân, tổ chức tự nguyện yêu cầu công chứng. (Khoản 1 Điều 2 Luật Công chứng sửa đổi)
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn

Nhiều qui định đem đến thuận lợi cho người dân

Các đạo luật vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 7 có nhiều qui định đem đến thuận lợi, bảo đảm quyền con người và quyền công dân theo tinh thần Hiến pháp năm 2013.

Luật Công chứng mới có nhiều thuận lợi cho người dân
Trong đó có 3 đạo luật do Bộ Tư pháp chủ trì soạn thảo là Luật Hôn nhân và Gia đình (HN&GĐ), Luật Công chứng (CC) và Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam. Lệnh của Chủ tịch nước công bố các Luật này đã được Văn phòng Chủ tịch nước họp báo công bố hôm qua (10/7). Trừ Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam có hiệu  lực từ ngày 26/6/2014, Luật HN&GĐ và Luật CC cùng có hiệu lực từ ngày 1/1/2015.
Không thừa nhận hôn nhân đồng tính
Luật HN&GĐ sửa đổi qui định “nam phải đủ từ 20 tuổi, nữ phải đủ từ 18 tuổi mới có quyền kết hôn” để có sự thống nhất trong cách tính tuổi của người kết hôn, bỏ qui định cấm kết hôn giữa những người cùng giới tính nhằm tránh sự phân biệt, kỳ thị đối với người đồng tính và can thiệp vào quan hệ chung sống giữa những người cùng giới tính. Tuy nhiên, thể hiện quan điểm hôn nhân phải là sự liên kết giữa hai người khác giới tính, Khoản 2 Điều 8 qui định: “Nhà nước không thừa nhận hôn nhân giữa những người cùng giới tính”.
Thứ trưởng Đinh Trung Tụng cho biết, trong quá trình chung sống, nếu phát sinh tranh chấp thì được giải quyết theo các qui định hiện hành, trong đó có Bộ luật Dân sự theo nguyên tắc “chia đôi đối với những tài sản cùng tạo lập, hoặc căn cứ vào khả năng đóng góp của mỗi người, Tòa án sẽ xem xét giải quyết, tài sản của ai là của người ấy”.
Để giải quyết đầy đủ và hợp lý những vấn đề phát sinh trong thực tiễn từ việc nam nữ chung sống như vợ chồng mà không đăng ký kết hôn, Luật mới đưa ra nguyên tắc việc chung sống như vợ chồng của nam, nữ mà không đăng ký kết hôn không làm phát sinh quan hệ vợ chồng, đồng thời qui định việc giải quyết quan hệ tài sản phải bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của phụ nữ và con, công việc nội trợ và công việc khác có liên quan để duy trì đời sống chung được coi như lao động có thu nhập.
Một trong những điểm mới rất quan trọng của Luật HN&GĐ là bổ sung chế định mang thai hộ vì mục đích nhân đạo, nhằm đáp ứng nhu cầu của các cặp vợ chồng muốn có con nhưng người vợ không thể mang thai và sinh con. Cùng với đó, Luật cũng qui định nhiều điều kiện chặt chẽ cho việc mang thai hộ, quyền, nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mang thai hộ và những vấn đề khác có liên quan.
Ngoài ra, Luật đã bổ sung qui định về chế độ tài sản của vợ chồng theo thỏa thuận; sửa đổi, bổ sung các quyền, nghĩa vụ của cha, mẹ, con và các thành viên khác của gia đình.
Bắt buộc bảo hiểm nghề nghiệp của công chứng viên
Luật Công chứng năm 2014 tập trung qui định về công chứng viên (CCV), tổ chức hành nghề CC nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ CCV, phát triển các tổ chức hành nghề CC qui mô lớn, hoạt động ổn định, bền vững, nâng cao chất lượng hoạt động CC, tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động CC, bảo đảm an toàn pháp lý cho các bên tham gia hợp đồng, giao dịch, phòng ngừa tranh chấp, góp phần bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, tổ chức, ổn định và phát triển kinh tế – xã hội.
Với ý nghĩa đó, phạm vi CC theo Luật CC năm 2014 được mở rộng hơn Luật CC 2006, giao cho CCV thực hiện CC bản dịch, chịu trách nhiệm về nội dung bản dịch mà mình CC nhằm nâng cao chất lượng bản dịch, tạo điều kiện thuận lợi và bảo đảm quyền lợi của cá nhân, tổ chức có yêu cầu chứng nhận bản dịch.
Nhằm nâng cao chất lượng và sự phát triển bền vững của đội ngũ CCV, Luật CC năm 2014 qui định chặt hơn về tiêu chuẩn CCV, tăng thời hạn đào tạo CCV lên thành 12 tháng, qui định người được miễn đào tạo nghề CC phải tham gia khóa bồi dưỡng nghiệp vụ trước khi được bổ nhiệm và chỉ được giảm 1/2 thời gian tập sự, tham dự kiểm tra kết quả tập sự hành nghề CC.
Luật CC năm 2014 tiếp tục ghi nhận 2 loại hình tổ chức hành nghề CC (Phòng CC và văn phòng công chứng – VPCC) song xác định rõ định hướng đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động CC, ưu tiên phát triển các VPCC theo qui hoạch tổng thể về tổ chức hành nghề CC, qui định về việc chuyển nhượng VPCC với những điều  kiện, thủ tục chặt chẽ, phù hợp với yêu cầu phát triển bền vững, ổn định của hoạt động CC.
Nhằm bảo vệ tốt hơn quyền lợi của người yêu cầu CC, giảm bớt áp lực cho tổ chức hành nghề CC và CCV trong quá trình hành nghề, tránh tình trạng đổ lỗi, trốn tránh trách nhiệm bồi thường, Luật qui định rõ bảo hiểm trách nhiệm nghề nghiệp của CCV là bắt buộc.
Các qui định về thủ tục CC hợp đồng, giao dịch, bản dịch, phí CC, thù lao CC và chi phí khác được qui định cụ thể, rõ ràng và chặt chẽ hơn, khắc phục tình trạng một số tổ chức hành nghề CC trong thời gian qua đã thu thù lao, chi phí CC không  phù hợp, ảnh hưởng đến quyền lợi của người yêu cầu CC
Bảo đảm lợi ích thiết thực của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Đó là một trong những mục tiêu mà Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam hướng tới. So với Luật Quốc tịch Việt Nam năm 2008, Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quốc tịch Việt Nam không qui định về thời hạn đăng ký giữ Quốc tịch VIệt Nam và bổ sung qui định: “Người Việt Nam định cư ở nước ngoài chưa mất quốc tịch Việt Nam mà không có giấy tờ chứng minh quốc tịch Việt Nam theo qui định tại Điều 11 của Luật này thì đăng ký với cơ quan đại diện để được xác định có quốc tịch Việt Nam và cấp hộ chiếu Việt Nam”.
Qui định như vậy nhằm khẳng định chủ trương nhất quán của Đảng và Nhà nước đối với người Việt Nam ở nước ngoài là một bộ phận không thể tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, khuyến khích và tạo điều kiện để người Việt Nam định cư ở nước ngoài giữ quan hệ gắn bó với gia đình, quê hương, góp phần xây dựng quê hương, đất nước. Việc sửa đổi sẽ không tạo áp lực về thời gian đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài trong việc đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam, đồng thời gắn kết với việc cấp hộ chiếu Việt Nam cho người đăng ký sẽ bảo đảm tốt hơn lợi ích thiết thực của người đăng ký giữ quốc tịch Việt Nam
Dịch vụ có thể cung cấp:
-Đặt lịch công chứng nhanh tại Sài Gòn 
-Công chứng ngoài giờ tại sài gòn
-Công chứng ngoài trụ sở
Có thể bạn quan tâm:
-Công chứng hợp đồng
-Công chứng giao dịch
-Công chứng hợp đồng mua bán nhà
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất
-Công chứng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
-Công chứng hợp đồng tài sản hình thành trong tương lai
-Công chứng hợp đồng mua bán xe ôtô
-Công chứng mua bán xe máy
-Công chứng bản dịch
-Công chứng hợp đồng ủy quyền
-Công chứng hợp đồng thế chấp
-Công chứng giấy ủy quyền
-Công chứng di chúc
-Công chứng văn bản phân chia di sản
-Công chứng phân chia tài sản trong thời kỳ hôn nhân
-Công chứng phân chia tài sản sau ly hôn
-Công chứng từ chối nhận di sản
Theo baophapluat.vn